Quân lực Hoa Kỳ tại hải ngoại

41 (lượt xem) |

TỔNG QUÁT

US Armed Forces

Quân đội Hoa Kỳ hay Các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States Armed Forces) là tổng hợp các lực lượng quân sự thống nhất của Hoa Kỳ. Các lực lượng này gồm có Lục quân, Hải quân, Thủy quân lục chiến, Không quân, Tuần duyên và Lực lượng Vũ trụ.

Hoa Kỳ có một truyền thống dân sự kiểm soát quân sự mạnh mẽ. Trong lúc Tổng thống Hoa Kỳ là người lãnh đạo tổng thể về quân sự thì Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, một bộ hành chính liên bang, đóng vai trò là cơ quan chính nơi mà các chính sách quân sự được thực hiện. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ do Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ lãnh đạo. Bộ trưởng là một người thuộc giới dân sự và là một thành viên trong Nội các Hoa Kỳ. Bộ trưởng cũng phục vụ trong vai trò tư lệnh quân sự đứng thứ hai sau Tổng thống Hoa Kỳ. Để điều phối hành động quân sự với ngoại giao, Tổng thống Hoa Kỳ có một Hội đồng An ninh Quốc gia với một vị cố vấn an ninh quốc gia lãnh đạo để hội ý. Cả Tổng thống Hoa Kỳ và Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ được cố vấn bởi một Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ gồm sáu thành viên là lãnh đạo của các quân chủng. Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ do Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ lãnh đạo.

Tất cả năm quân chủng được đặt dưới quyền hướng dẫn của Bộ Quốc Phòng, trừ Tuần duyên Hoa Kỳ được đặt dưới quyền của Bộ Nội An Hoa Kỳ vào năm 2003 sau khi có việc tái tổ chức chính phủ theo sau vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001. Tuần duyên Hoa Kỳ có thể được thuyên chuyển sang Bộ Hải quân Hoa Kỳ theo lệnh của Tổng thống hay Quốc hội Hoa Kỳ trong thời chiến. Tất cả năm lực lượng vũ trang là trong số 7 lực lượng đồng phục của Hoa Kỳ; hai lực lượng còn lại là Đoàn Ủy nhiệm Y tế Công cộng Hoa Kỳ và Đoàn Ủy nhiệm Quản trị Khí quyển và Đại dương Quốc gia.

Từ lúc lập quốc, quân sự đã đóng vai trò quyết định trong lịch sử Hoa Kỳ. Ý nghĩa mang tính định hình và sự thống nhất quốc gia đã được hình thành từ các chiến thắng như các cuộc chiến chống hải tặc Barbary cũng như Chiến tranh 1812. Mặc dù vậy, những người sáng lập ra Hoa Kỳ vẫn nghi ngờ về một lực lượng quân sự thường trực (vì lo sợ một kẻ độc tài nào đó có thể dùng lực lượng quân sự để thao túng đất nước) cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ thì một quân đội hiện dịch lớn mạnh mới được chính thức thiết lập

Đạo luật An ninh Quốc gia Hoa Kỳ 1947, được thông qua sau Chiến tranh thế giới thứ hai và trong thời gian bắt đầu xảy ra Chiến tranh lạnh, đã tạo nên khung sườn cho Quân đội Hoa Kỳ hiện đại. Đạo luật này đã sáp nhập các bộ cấp nội các là Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ và Bộ Hải quân Hoa Kỳ thành Tổ chức Quân sự Quốc gia (sau đó đổi tên thành Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ vào năm 1949). Nguồn nhân lực của Quân đội Hoa Kỳ là từ con số lớn những người tự nguyện phục vụ mặc dù chính sách quân dịch cũng từng được sử dụng nhiều lần trong quá khứ cả thời chiến cũng như thời bình nhưng nó đã không được dùng kể từ năm 1972. Tính đến năm 2020, Hoa Kỳ có 1,377,863 quân nhân hiện dịch, 849,450 quân nhân trừ bị, chi tiêu khoảng 721.5 tỷ USD, 3.42% GPD (2019) mỗi năm để tài trợ cho các lực lượng quân sự của mình, chiếm khoảng 42 phần trăm chi tiêu quân sự thế giới. Tính chung, các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ sở hữu số lượng lớn các trang bị mạnh và tiên tiến mà giúp cho họ khả năng lớn cả về phòng thủ và tấn công.

QUÂN LỰC HOA KỲ TẠI HẢI NGOẠI

(Tất cả con số dưới đây đề trích từ US Military Deployment – From Wikipedia, the free encyclopedia và Where U.S. troops and military assets are deployed in the Middle East from Rashaan Ayesh – Axios dated 8/1/2020)

Tính đến đầu năm 2020, quân đội Hoa Kỳ đồn trú tại 170 quốc gia với 170,000 quân trên 800 căn cứ quân sự trên thế giới. Đó là chưa kể khoảng 40,000 nhân viên dân sự mà Hoa Kỳ từ chối công bố chi tiết. Ba nơi có quân số đông nhất là 55,165 tại Nhật Bản, 34,674 tại Đức Quốc và 26,184 tại Hàn Quốc. Đó là chưa kể 14,000 quân tại Afghanistan và 5,200 quân tại Iraq. Các số liệu này thường thay đổi vì các đơn vị luôn được triển khai và rút đi thường xuyên. Tổng cộng có chừng 131,435 tại Đông Á – Đông Nam Á và Thái Bình Dương, 63,361 quân nhân đóng quân tại châu Âu, hơn 13,109 tại Tây Á, Trung Á, Nam Á, Phi Châu và Ấn Độ Dương. Căn cứ hải ngoại lớn nhất là ở Yokosuka, Nhật Bản, nơi đây phục vụ như cảng nhà cho hạm đội triển khai tiền phương lớn nhất và là căn cứ hoạt động của Đệ 7 Hạm đội của Hải quân Hoa Kỳ. Vào đầu năm 2013 thì 42 trong số 52 tàu hải quân của Mỹ hoạt động tại vùng Viễn Đông dùng căn cứ Yokosuka, Guam và  Singapore.

Căn cứ Hải quân Yokosuka của HQHK tại Nhật Bản

Theo Bộ Quốc phòng Mỹ, tổng chi phí cho các căn cứ nước ngoài và việc triển khai quân tới đây là 24.4 tỷ USD trong năm tài khóa 2020. Con số này chưa tính tới chi phí cho các hoạt động chiến đấu đang diễn ra tại Iraq và Afghanistan. Kể từ khi ông Donald Trump khởi động chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ vào năm 2015, ông đã chỉ trích số tiền mà các đồng minh của Mỹ đóng góp cho việc bảo vệ chính họ. Ông đòi hỏi các đồng minh cần sự bảo vệ của quân lực Hoa Kỳ phải trả toàn chi phí cho sự hiện diện của Hoa Kỳ, cọng thêm 50% tiền phụ trội về việc nhờ vả sự giúp đỡ của Hoa Kỳ. Đây là vấn đề tế nhị đòi hỏi sự thông cảm và tương nhượng của cả 2 bên trên cả 2 phương diện kinh tế và quân sự trong quan hệ chiến lược.

Người dân ở các nước khác nhìn nhận thế nào về sự hiện diện của quân đội Mỹ:

Năm 2018, một cuộc điều tra đã được thực hiện ở 14 nước, bao gồm Nhật Bản và Hàn Quốc, với khoảng 1,000 người được hỏi ở mỗi nước. Người dân ở các nước này nói chung cảm thấy tích cực hoặc có thái độ trung lập về quân nhân Mỹ đồn trú tại đây. Những người có tiếp xúc trực tiếp với quân nhân Mỹ hoặc có gia đình và bạn bè tương tác với lực lượng này thường có xu hướng nói tốt về quân Mỹ. Ngoài ra, khoảng 10-20% số người được hỏi cho hay đã nhận được lợi ích tài chính từ sự hiện diện của quân đội Mỹ. Điều này có thể bao gồm việc các quân nhân Mỹ sử dụng dịch vụ từ các doanh nghiệp của họ hoặc bản thân họ được quân đội Mỹ tuyển dụng. Tất nhiên quan điểm của người dân địa phương là đa dạng. Đã có những phong trào phản đối lính Mỹ trên đảo Okinawa của Nhật Bản, quanh căn cứ không quân Ramstein của Đức, và ở cả Hàn Quốc. Mỹ càng yêu cầu các nước chủ nhà chi trả cho sự hiện diện của họ thì các chính trị gia ở các nước đó càng ít ủng hộ việc duy trì thỏa thuận giữa đôi bên.

Biểu tình của dân chúng Nhật tại Okinawa

Quân lực Hoa Kỳ tại Trung Đông: Hoa Kỳ đã duy trì sự hiện diện tốn kém nhất tại Trung Đông trong những thập niên vừa qua với ít nhất là 60,000 quân trực thuộc United States Central Command. Theo tờ New York Times, binh sĩ Mỹ tại Trung Đông đang chuẩn bị cho tình huống xấu nhất. Lầu Năm Góc đang xúc tiến việc đưa thêm 4,500 quân tới Iraq và Kuwait do căng thẳng gần đây có liên quan đến Iran. Ngoài việc tăng quân, Mỹ còn điều đến khu vực nhiều vũ khí chiến lược như máy bay tuần thám, hệ thống phòng không Patriot, máy bay ném bom chiến lược B-52, tiêm kích tàng hình F-22 …

Từ nhiều thập niên Mỹ đã xây dựng một hệ thống đồng minh rộng lớn ở Trung Đông đủ sức đáp ứng những thách thức chiến lược của Mỹ trong khu vực. Tuy nhiên, trang web lesclesdumoyenorient.com nhận định dù vậy, nếu xảy ra đối đầu với Iran, các đồng minh của Mỹ ở Trung Đông vẫn tuân theo chủ nghĩa thực dụng.

Ba nước tại Trung Đông có quân Mỹ nhiều nhất là Kuwait, Bahrain và Qatar. Mỹ triển khai khoảng 13,000 quân đến nhiều căn cứ ở Kuwait. Hai nước đã ký hiệp định hợp tác quốc phòng từ sau cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Tại Qatar có căn cứ Al Udeid, căn cứ không quân lớn nhất của Mỹ ở Trung Đông với 11,000 quân. Năm 2018, Qatar thông báo kế hoạch trị giá 1.8 tỉ USD nâng cấp căn cứ này. Tại Bahrain có Căn cứ Yểm trợ Hải Quân (Naval Support Activity Bahrain or NSA Bahrain) của Hoa Kỳ và cũng là Bộ Chỉ huy U.S. Naval Forces Central Command và United States Fifth Fleet.

Phối trí của quân lực Mỹ như sau (số lượng khác nhau tùy theo năm và cách tính của các mạng truyền thông):

  • Kuwait: Có 13,000 quân.
  • Bahrain:  7,000 quân.
  • UAE: đến 2,502 quân.
  • Kuwait: khoảng 2,018 quân.
  • Thổ Nhĩ Kỳ: 1,702 quân.
  • Qatar: 562 quân (Chưa kể căn cứ Không quân Al Udeid của Hoa Kỳ).
  • Jordan: khoảng 3,000 quân.
  • Saudi Arabia: khoảng 346 quân.
  • Egyt: 294 quân.

Thế trận Hoa Kỳ tại Trung Đông – Ảnh chụp màn hình

Quân lực Hoa Kỳ tại Afghanistan: Afghanistan bao gồm nhiều nhóm sắc tộc, và nằm ở ngã tư đường giữa Đông và Tây. Nước này từng là một trung tâm thương mại và di cư cổ đại. Vùng này cũng đã trải qua nhiều lần bị xâm lược và chinh phục, gồm cả từ Đế quốc Ba Tư, Alexandros Đại đế, người Ả Rập Hồi giáo, các dân tộc người Turk và những người du mục Mông Cổ, Đế quốc Anh, Liên bang Xô Viết và cả Hoa Kỳ. Từ năm 1978, Afghanistan đã phải trải qua một cuộc nội chiến kéo dài và đẫm máu, với sự can thiệp từ nước ngoài dưới hình thức Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan và cuộc xung đột năm 2001 với Hoa Kỳ trong đó chính phủ Taliban cầm quyền đã bị lật đổ. Cũng cần nói rỏ Taliban là một phong trào chính thống Hồi giáo Sunni cực đoan của người Pashtun, thống trị phần lớn Afghanistan từ năm 1995 đến năm 2001, khi những lãnh đạo của họ đã bị loại bỏ khỏi quyền lực bởi một nỗ lực quân sự hợp tác giữa Hoa Kỳ, Anh Quốc và Liên minh phía Bắc. Tháng 12 năm 2001, Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc đã cho phép thành lập một Lực lượng Hỗ trợ An ninh quốc tế (ISAF). Lực lượng này, gồm binh lính NATO, đã hỗ trợ chính phủ của Tổng thống Hamid Karzai trong việc thiết lập an ninh trên toàn quốc. Năm 2005, Hoa Kỳ và Afghanistan đã ký kết một thỏa thuận đối tác chiến lược cam kết mối quan hệ lâu dài giữa hai quốc gia. Cùng lúc ấy, khoảng 30 tỷ USD cũng đã được cộng đồng quốc tế rót vào cho việc tái thiết đất nước.

Những năm theo sau đó, sứ mệnh của cuộc xâm chiếm này thay đổi từ xung đột vũ trang giữa các quân đội chính quy sang chống chiến tranh du kích. Thỏa thuận, được ký kết tại Qatar vào ngày 29/2/2020, nhằm mở đường cho hòa bình ở Afghanistan sau hơn 18 năm xung đột. Hoa Kỳ và các đồng minh NATO sẽ rút toàn bộ quân đội khỏi Afghanistan sau 14 tháng nếu Taliban giữ nguyên các cam kết của họ theo thỏa thuận được ký kết, theo giới chức. Hơn 2,400 lính Mỹ đã thiệt mạng trong cuộc xung đột. Hoa Kỳ hiện có khoảng 8,600 binh sĩ ở Afghanistan cùng với 8,000 quân NATO. Theo Reuters, trong cuộc phỏng vấn phát ngày 8/8, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper cho biết Hoa Kỳ dự kiến sẽ cắt giảm số binh sĩ của nước này ở Afghanistan xuống “con số dưới 5 nghìn” vào cuối tháng 11/2020.

Quân lực Hoa Kỳ tại Iraq: Khoảng 5,200 quân Mỹ vẫn còn ở Iraq tính đến tháng 1/2020. Số lượng có thể giảm đi vì Iraq không còn muốn sự hiện diện của quân lực Hoa Kỳ sau vụ ám sát tướng Soleimani của Iran.

Quân lực Hoa Kỳ tại Nhật Bản: Kể từ khi kết thúc Thế chiến 2 vào năm 1945, Mỹ đã duy trì một số căn cứ quân sự và hàng chục ngàn nhân viên quân sự ở cả Nhật Bản và Hàn Quốc. Sau khi Nhật Bản giành lại chủ quyền vào năm 1951, Mỹ và Nhật Bản đã ký một hiệp ước hướng tới sự tương trợ quốc phòng và một thỏa thuận cho phép Mỹ hoạt động và duy trì các căn cứ quân sự ở Nhật Bản. Hiện nay có xấp xỉ 55,000 lính Mỹ ở Nhật Bản chưa kể đến hải cảng Yokosuka dành cho Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ.

Mỹ đã đàm phán các thỏa thuận với Nhật Bản về nội dung chi tiết về việc chia sẻ kinh phí với từng nước. Thỏa thuận hiện nay của Nhật Bản không tuyên bố rõ về tổng đóng góp. Tuy nhiên, mức đóng góp hiện nay của Nhật Bản lên tới xấp xỉ 1.7 tỷ USD. Bộ Quốc phòng Mỹ hiện ước tính tổng chi phí duy trì hiện diện quân sự tại Nhật Bản là 5.7 tỷ USD. Nếu theo cách tính của Tổng thống Trump thì Nhật phải trả cho Mỹ 5.7 tỷ USD + 2.85 tỷ lệ phí bảo vệ = 8.55 tỷ USD hàng năm. Các con số này chỉ là phản ảnh một phần về quan hệ tài chính giữa nước chủ nhà và Mỹ trong lĩnh vực quốc phòng. Chúng chưa chứa đựng các chuyển giao khác, như việc Nhật Bản mua các hệ thống vũ khí của Mỹ và các chi phí khác mà chính quyền Nhật Bản chịu. Ngoài ra, phải để ý đến khía cạnh quan trọng nhất là dân chúng Nhật và các chính trị gia Nhật nhìn về vấn đề này. Với sự hiện diện của Trung Quốc như là một thế lực mới nổi muốn thâu tóm ảnh hưởng về kinh tế cũng như quân sự trong khu vực Á Châu thì sự liên minh Mỹ-Nhật phải được đặt lên tầm cao mới. Cũng cần để ý là trong cuộc chiến Việt Nam thì Nhật Bản cũng hưởng lợi rất nhiều.

Căn cứ Mỹ tại Okinawa

Quân lực Hoa Kỳ tại Hàn Quốc: Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Triều Tiên vào năm 1953, Mỹ đã duy trì một số căn cứ quân sự và hàng chục ngàn nhân viên quân sự ở Hàn Quốc. Hiện có xấp xỉ 26,500 quân Mỹ ở Hàn Quốc. Giờ đây chính quyền Trump đang yêu cầu Hàn Quốc trả thêm tiền cho các binh sĩ Mỹ đóng tại các nước này. Truyền thông cũng đưa tin rằng ban lãnh đạo quân sự Mỹ ở Hàn Quốc đã thảo luận khả năng rút tới 4,000 quân khỏi Hàn Quốc nếu nước này không tăng khoản đóng góp của mình. Lầu Năm Góc kể từ đó đã phủ nhận thông tin này. Mỹ đã đàm phán các thỏa thuận với cả Nhật Bản và Hàn Quốc với nội dung chi tiết về việc chia sẻ kinh phí với từng nước. Chẳng hạn, năm 2019, Mỹ và Hàn Quốc đàm phán một thỏa thuận kêu gọi Hàn Quốc đóng góp xấp xỉ 893 triệu USD. Bộ Quốc phòng Mỹ hiện ước tính tổng chi phí duy trì hiện diện quân sự của Mỹ ở Hàn Quốc là 4.5 tỷ USD. Theo cách tính của Tổng thống Trump thì Hàn Quốc phải trả cho Hoa Kỳ 4.5 tỷ USD + 2.25 tỷ USD chi phí bảo vệ = 6.65 tỷ USD. Điều cần lưu ý là phía Nam thủ đô Seoul của Hàn Quốc thì Hoa Kỳ vừa mới hoàn tất trại Humphreys (USAG Humphreys) ở Pyeongtaek, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc hiện là căn cứ quân sự lớn nhất của quân đội Mỹ ở nước ngoài. Trại Humphreys là nơi đồn trú của hàng ngàn quân nhân và nhà thầu quân đội Mỹ, ước tính lên tới 25,000 người. Phía sau các bức tường dày và cao vút bao quanh căn cứ quân sự tọa lạc cách Seoul 65 km về phía nam này là môi trường hoàn toàn khác với phần còn lại của thủ đô Hàn Quốc.

Vấn đề thương thuyết với Hàn Quốc về sự hiện diện của quân lực Hoa Kỳ tại đây cũng là vấn đề hóc búa vì trong nhiều khía cạnh, tinh thần dân tộc của dân chúng cũng như các chính trị gia Hàn Quốc còn quá khích hơn cả người Nhật. Đi xa hơn thì Hoa Kỳ vẫn còn lá bài tủ là sự hiện diện của Bắc Triều Tiên mà cho đến bây giờ tương lai vẫn chưa biết ra sao.

Trại Humphreys phía Nam Hán Thành

Quân lực Hoa Kỳ tại Liên Âu: Lính Mỹ ở Châu Âu là di sản thời hậu Thế chiến Hai khi quân đồng minh đóng tại Tây Đức. Quân đội Hoa Kỳ ở Đức đóng vai trò là một phần của sự răn đe chống lại Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh, và họ tiếp tục phục vụ như một lực lượng răn đe chống lại Nga bây giờ. Thống kê mới nhất cho thấy quân số của Hoa Kỳ đóng tại Âu Châu khoảng 63,361 người với khoảng 34,674 quân Mỹ và nhân viên hỗ trợ tại Đức, 12,353 quân tại Italy, 9,000 quân tại Anh và Tây Ban Nha với khoảng 4,000 nhân viên quân sự và gia đình. Trong năm 2020, cộng với số quân Hoa Kỳ và NATO đã đóng sẵn ở châu Âu, một lực lượng đa quốc gia (19 nước) gồm 37 nghìn quân sẽ tham gia cuộc tập trận mà phần tại Ba Lan bắt đầu vào đầu năm. Toàn bộ cuộc tập trận kéo dài từ tháng 4 sang tháng 5/2020.

Quân lực Hoa Kỳ tại Âu Châu

Quân đội Hoa Kỳ ở Đức đóng vai trò là một phần của sự răn đe chống lại Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh, và họ tiếp tục phục vụ như một lực lượng răn đe chống lại Nga bây giờ. Tại châu Âu, lính Mỹ đóng ở Đức là nhiều nhất, rồi tới Italy, Anh và Tây Ban Nha. Hiện Hoa Kỳ có khoảng 35,000 quân Mỹ và nhân viên hỗ trợ tại Đức. Khoảng 2/3 là bộ binh và 1/3 là Không quân. Nhưng quan trọng hơn là con số quân Mỹ ở Đức sẽ được 2 chính quyền Đức – Mỹ hạn chế ở mức 25 nghìn, theo Wall Street Journal.

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã chuẩn y kế hoạch cắt giảm 9,500 quân trong tổng số 35,000 quân hiện tại. Các chính trị gia Mỹ và Anh cảnh báo rằng quyết định của tổng thống Mỹ rút binh sĩ khỏi Đức có nguy cơ mang lại lợi thế chiến lược cho Kremlin và làm tổn hại liên minh quân sự phương Tây. Theo hãng thông tấn Ba Lan (PAP) hôm 06/06, Thủ tướng Mateusz Morawiecki nói rằng “Ba Lan đang nói chuyện với Hoa Kỳ” về việc tăng thêm quân Mỹ “để bảo vệ tuyến phía Đông của NATO”. Ông Trump từ lâu than trách rằng các thành viên NATO phải bỏ thêm tiền cho quân đội. Hiện tại, các quốc gia Liên Âu chỉ chi ít hơn 2% GDP cho quốc phòng trong khi Hoa Kỳ chi đến 4.4% GDP. Cụ thể, Berlin sẽ tăng chi tiêu quốc phòng từ mức 1.42% GDP vào năm 2020 lên 1.5% vào năm 2024 và tiếp tục đạt mức 2% vào đầu những năm 2030. Cuối năm 2019, thỏa thuận mới về điều chỉnh mức đóng góp cho ngân sách chung vừa đạt được giữa 29 quốc gia thành viên NATO, bắt đầu từ năm 2021, cho thấy tỷ lệ đóng góp cho ngân sách NATO của Đức sẽ tăng từ 14.8% lên 16.35%, trong khi mức đóng góp của Mỹ cho khối quân sự này sẽ giảm từ 22.1% xuống còn 16.5%. Điều này đồng nghĩa với việc mức đóng góp hằng năm của Đức cho ngân sách NATO sẽ tăng thêm khoảng 33 triệu Euro, trong khi Mỹ sẽ giảm khoảng 120 triệu Euro tiền đóng góp. Trong năm 2019, Mỹ đã đóng gần 470 triệu Euro cho ngân sách 2.12 tỷ Euro của NATO, trong khi mức đóng góp của Đức là 313 triệu Euro. Sự thương thuyết giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản, Hàn Quốc và Đức Quốc có nhiều điểm tương đồng tùy theo tình hình trong khu vực.

Căn cứ không quân Ramstein

Quân lực Hoa Kỳ tại Đông Nam Á:  Tại Đông Nam Á, 3 quốc gia có thể đóng góp nhiều nhất vào vai trò chiến lược của Hoa Kỳ là Philippines, Singapore và Việt Nam.

  • Philippines: Thỏa ước Căn cứ Quân sự năm 1947 được tu chính vào năm 1979, thay đổi vai trò của người Mỹ tại Vịnh Subic từ làm chủ sang làm khách. Bản tu chính xác nhận chủ quyền của Philippines trên căn cứ và giảm khu vực dành cho Hoa Kỳ sử dụng từ 244 km² xuống 63 km². Quân đội Philippines đảm nhiệm trách vụ vòng ngoài chu vi của căn cứ để giảm các biến cố giữa quân sự Hoa Kỳ và dân sự Philippines. Năm 1991, núi lửa Pinatubo cách Vịnh Subic khoảng 32 km bùng nổ với sức mạnh gấp 8 lần hơn núi St. Helens. Vịnh Subic, từng là một trong các căn cứ hải quân được bảo trì tốt và đẹp nhất tại Thái Bình Dương bị chôn dưới một lớp đất cát thấm nước. Căn cứ Không quân Clark, hoàn toàn hư hại và kế hoạch đóng cửa bắt đầu khởi sự. Khi Thỏa ước Căn cứ Quân sự năm 1947 hết hạn vào năm 1991, các cuộc thương lượng căng thẳng giữa hai chính quyền Mỹ và Philippines bắt đầu nhưng cuối cùng Thượng viện Philippines bác bỏ phê chuẩn hiệp ước. Năm 1992, cờ Mỹ hạ xuống tại Subic lần cuối cùng. Việc rút quân này đánh dấu lần đầu tiên, kể từ thế kỷ 16, không có một lực lượng quân sự ngoại quốc nào hiện diện trên đất Philippines. Sau một cuộc đối đầu kéo dài 3 tháng tại Scarborough giữa tàu hải quân Trung Quốc và Philippines năm 2012, cuối cùng Trung Quốc đã chiếm kiểm soát bãi cạn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Hơn 20 năm kể từ khi những binh sĩ cuối cùng của hải quân Mỹ rút khỏi căn cứ hải quân trên Vịnh Subic vào năm 1992, Philippines ngày 16/7/2015 tuyên bố mở cửa trở lại căn cứ này cho chiến hạm Hải quân Hoa Kỳ. Theo thời báo The Philippine Star cuối năm 2019, Bộ Quốc phòng Philippines đã phê chuẩn cho phép Mỹ và Australia tham gia vào kế hoạch cải tạo xưởng tàu cũ của Philippines trên đảo Luzon. Theo đó, xưởng đóng tàu này sẽ được cải tạo, nâng cấp thành một căn cứ hải quân mới. 
  • Singapore: Hiện nay tại căn cứ Hải Quân của Singapore có 4 chiến hạm của Hoa Kỳ luân phiên đồn trú tại đây mà nòng cốt là 2 chiến hạm tác chiến ven bờ loại LCS.

Căn cứ Hải Quân Changi tại Singapore

  • Việt Nam: Theo tài liệu từ phía Việt Nam ngày 8 tháng 3 năm 2016, tại căn cứ quân sự Cam Ranh, Quân chủng Hải quân Việt Nam tổ chức lễ khai trương cảng quốc tế Cam Ranh, một trong những cảng biển lớn nhất Việt Nam với tổng chiều dài khai thác cầu là 2,147 m, độ sâu 20 m, tiếp nhận được tàu sân bay tải trọng 110,000 DWT (dead weight tonnage), tàu khách có dung tích 100,000 GRT (gross tonage) và sửa chữa, đóng mới các công trình biển như giàn khoan đến 200m nước. Có thể tiếp nhận 18 tàu cùng lúc và 185 tàu mỗi năm, là cảng đầu tiên tại Việt Nam thiết kế cho phép neo đậu tàu trong điều kiện gió bão đến cấp 8. So sánh với kích thước của Hàng không Mẫu hạm lớp Nimitz với trọng tải tối đa 104,600 tấn, chiều dài 332.8 m và mớn nước tối đa 41 ft (12.5 m) thì có thể cảng này đủ sức để HKMH cập bến an toàn. So sánh với cảng Subic của Philippines thì cảng Subic gần quần đảo Trường Sa hơn nhưng cảng Cam Ranh chỉ cách thủy lộ từ Malacca lên Đông Bắc Á chỉ vài chục hải lý. Hiện Việt Nam vẫn giử chủ trương 3 không nhưng những hành động lấn áp của Trung Quốc trong thời gian gần đây đã khiến Hoa Kỳ tái thương thuyết bộ tứ kim cương (Hoa Kỳ-Ấn Độ-Nhật Bản-Úc Đại Lợi) với sự tham gia của 3 quốc gia mở rộng là Hàn Quốc, New Zealand và Việt Nam. Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khối ASEAN được mời tham gia bộ tứ mở rộng này. Trong 2, 3 năm sắp đến, khi liên hệ chiến lược Mỹ-Việt rỏ ràng hơn thì vị trí của cảng Cam Ranh sẽ được minh định.

KẾT LUẬN

Như đã nói ở trên, quân lực Hoa Kỳ dàn trải đến tất cả điểm nóng trên thế giới. Một số chuyên viên nghiên cứu nói đùa rằng chiến lược của Hoa Kỳ giống như các bộ phim Cowboys mà dân chúng Hoa Kỳ ưa thích. Hoa Kỳ luôn đóng vai trò Good Guy, còn vai trò Bad Guys thì không thiếu. Ở Trung Đông thì có Iran. Ở Á Châu thì Trung Quốc cảm thấy đủ mạnh để chia đôi Thái Bình Dương, đẩy Hoa Kỳ ra khỏi khu vực then chốt phía Tây Thái Bình Dương. Ở Châu Âu thì Nga Sô luôn luôn kiếm cơ hội lấy lại vài phần Đông Âu đã mất đi sau khi Liên Sô tan rã.

Các cuộc thăm dò gần đây cho thấy mặc dù người Mỹ đang ngày càng hoài nghi về sự can thiệp của Mỹ vào Afghanistan và Iraq, dân chúng Mỹ vẫn ủng hộ sự can dự hiện nay của Mỹ vào thế giới và các cam kết của nước này đối với các đồng minh. Tại Trung Đông, dù rằng đây là khu vực của người Hồi Giáo nhưng các quốc gia này theo chủ nghĩa thực dụng. Họ cần có sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực này vì quyền lợi dầu hỏa của họ. Cũng ít khi thấy họ than phiền về số tiền họ đóng cho Hoa Kỳ. Tại Âu Châu, việc than phiền các đồng minh của Mỹ nhất là Đức Quốc không đóng góp đủ cho việc phòng vệ của họ hay không là điều đã có từ lâu. Một ngày trước khi đến Helsinki dự hội nghị thượng đỉnh với tổng thống Nga Vladimir Putin, trong cuộc phỏng vấn được kênh truyền hình Mỹ CBS News phát đi hôm 15/7/2018, tổng thống Mỹ Donald Trump đã không ngần ngại xếp Nga, Liên minh châu Âu và Trung Quốc vào diện “kẻ thù” (tiếng Anh là “foe”) của nước Mỹ. Tại khu vực Đông và Đông Nam Á, khi liên minh Ấn Độ – Thái Bình Dương và Bộ tứ kim cương thành hình thì sự liên hệ kinh tế – quân sự của các quốc gia liên hệ sẽ rõ ràng hơn thì sự hiện diện của quân lực Hoa Kỳ tại các quốc gia liên hệ cũng như vấn đề tài chánh cũng được quyết định dựa theo quyền lợi hổ tương của các quốc gia liên hệ. Nhật Bản và Hàn Quốc chắc chắn sẽ có được sự thỏa thuận hoàn toàn với Hoa Kỳ. Việt Nam ở vào vị trí rất là đặc biệt. Vài năm sắp đến, khi Việt Nam có đủ tin tưởng vào sự cam kết của Hoa Kỳ cũng như có đủ sức mạnh để đãm nhận một vai trò lớn hơn thì liên hệ giữa Việt Nam, Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh sẽ được định hình rỏ hơn.

THAM KHẢO

  1. US Military Deployment – From Wikipedia, the free encyclopedia
  2. Where U.S. troops and military assets are deployed in the Middle East from Rashaan Ayesh – Axios dated 8/1/2020.
  3. Quân đội Hoa Kỳ – Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia
  4. Hoa Kỳ rút quân khỏi Iraq – Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia.
  5. Bài viết “Where in the World Is the U.S. Military? của David Vine tháng 7 và 8, 2015.
  6. Bài viết “Mỹ đang có bao nhiêu quân tại hàng loạt nước Trung Đông? đăng trên mạng Star & Stripes ngày 8/1/2020.
  7. Bài viết “Report: Trump wants Germany, Japan and others to pay full cost plus a premium for US troops” đăng trên mạng Star & Stripes ngày 3/8/2919.
  8. Bài viết “Vì sao Mỹ chi rất nhiều tiền cho việc bảo vệ các đồng minh?” đăng trên mạng ải quanHHải Quân Online ngày 23/12/2919.
  9. Bài viết “Căn cứ quân sự ‘khủng’ nhất của Mỹ ở nước ngoài” đăng trên mạng ải quanHHải Quan Online ngày 29/7/2919.
  10. Bài viết “Hoa Kỳ và Philippines thỏa thuận ký kết hiệp ước an ninh mới” đăng trên mạng ải quanHRFI ngày 11/4/2914.
  11. Bài viết “Cơn lốc có tên “Donald Trump” tràn qua châu Âu” đăng trên mạng Hải quan Tài Chính Online ngày 20/7/2918.

*****

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *